Trang 3/4 đầuđầu 1234 cuốicuối
kết quả từ 21 tới 30 trên 40
  1. #21
    Tham gia
    Nov 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Paris
    Bài viết
    1.694
    Thanks
    222
    Thanked 3.309 Times in 556 Posts
    Blog Entries
    1

    Mặc định

    23)Theo như em được biết thì tốc độ của WCDMA lên đến 2 Mbps là nhờ sử dụng hệ số trải phổ khả biến và các kết nối đa mã. Nhưng em chưa hiểu như thế nào là hệ số trải phổ khả biến và kết nối đa mã. Và khi một kết nối sử dụng nhiều mã thì sẽ xử lý như thế nào?

    -----------------

    1 user có thể sử dụng đến 6 kênh DPDCH nên gọi là đa mã, mỗi kênh DPDCH có hệ số trải phổ từ 4 đến 256 nên gọi là khả biến. Các mã này là mã trực giao độ dài khả biến (OVSF-Orthogonal Variable Spreading Factor), nên phân biệt được các kênh của cũng một user. Tốc độ 2 Mbps sẽ có được nhờ hệ số trải phổ = 4, dùng 6 kênh DPDCH và mã kênh truyền là mã chập tốc độ 1/3: 3,84 Mc/s x 1/4 x 6 x 1/3 = 1,92 Mb/s.



    Đây là giản đồ miêu tả cách chọn code OVSF trực giao.


    Hai code được gọi là trực giao nếu inner product (tích trong) của chúng bằng 0. Trong trường hợp 2 code có dạng 1, -1 ví dụ như (1, 1, 1, 1) và (1, 1, -1, -1) là trực giao vì:

    (1 * 1) + (1 * 1) + (1 * -1) + (1 * -1) = 0

    Nói chính xác hơn rằng 2 codes trực giao với nhau là 2 codes có hàm tương quan giữa chúng bằng 0. Nghĩa là chỉ nhân với nhau thì chưa đủ mà còn phải lấy tích phân trên cả chu kỳ của tín hiệu mang tin (Ts) nữa.

    Cần nói rõ thêm rằng các PN codes do con người tạo ra không có loại nào đạt được tính trực giao đầy đủ trong một chu kỳ hữu hạn cả mà chỉ gần như trực giao với nhau thôi và đó là bản chất của MAI. Nếu ta có thể tạo ra các PN codes hoàn toàn trực giao trong một chu kỳ hữu hạn thì dung lượng của cell về lý sẽ có thể đạt vô cùng lớn, chỉ còn bị giới hạn bởi tạp âm nhiệt mà thôi.

    (tổng hợp từ jcisio và nqbinhdi)

  2. The Following 5 Users Say Thank You to nvqthinh For This Useful Post:

    bibibobo (05/03/2009), christopher (29/04/2013), hqt_muno1 (29/06/2013), mafia_viet (05/03/2012), tranthanh179 (17/10/2013)

  3. #22
    Tham gia
    Nov 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Paris
    Bài viết
    1.694
    Thanks
    222
    Thanked 3.309 Times in 556 Posts
    Blog Entries
    1

    Mặc định

    25)Trong GSM, tại sao phát lên tần số thấp, còn tần số phát xuống lại cao hơn, trong khi đó ở thông tin vệ tinh thì ngược lại?

    Trích Nguyên văn bởi nothing
    Lý do là ĐIỆN thôi bạn ạ:
    - Tần số càng thấp suy hao càng ít truyền càng xa.

    - Trong GSM: cả BTS và MS đều ở trên mặt đất do đó vấn đề nguồn điện không đáng ngại, vì Công suất phát của MS nhỏ hơn BTS nên ưu tiên dành tần số thấp cho MS phát tín hiệu (BTS thu, và ngược lại)

    - Trong Vệ tinh: nguồn điện là điểm chết người của quả vệ tinh, do đó tương tự như GSM tần số thấp lại được để dành cho quả vệ tinh phát xuống mặt đất.

    - Đối với hạn chế do phải phát tại tần số cao của BTS GSM và trạm mặt đất vệ tinh dễ dàng được khắc phục bằng tăng công suất phát và ăng ten gain lớn.
    Trích Nguyên văn bởi khoalv
    Mình hoàn toàn đồng ý với ý kiến của bạn Nothing, tần số thấp được ưu tiên giành cho satellite vì nhiều lý do, trong đó có lý do về nguồn điện. Còn về tính định hướng thì phải ở cả hai phía chứ không chỉ một. Trong thông tin vệ tinh sử dụng kỹ thuật tracking để điều khiển bám vệ tinh và hướng tính của anten. Kỹ thuật này dựa trên việc đo đạc và thu thập các tham số từ vệ tinh về để trạm mặt đất ra quyết định việc điều khiển đó
    Tham khảo thêm trả lời của câu hỏi 11)

  4. The Following 2 Users Say Thank You to nvqthinh For This Useful Post:

    bibibobo (05/03/2009), tranthanh179 (17/10/2013)

  5. #23
    Tham gia
    Nov 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Paris
    Bài viết
    1.694
    Thanks
    222
    Thanked 3.309 Times in 556 Posts
    Blog Entries
    1

    Mặc định

    26)Đặc điểm của công nghệ EDGE tiên tiến (Evolved EDGE)?

    Tại hội nghị di động thế giới MWC08 vừa được tổ chức tại Barcelona, Nortel đã trình diễn công nghệ EDGE tiên tiến (Evolved EDGE) với tốc độ truyền lên đến 500 Kbps. Để mọi người rộng đường thảo luận về Evolved EDGE, mình xin giới thiệu một vài đặc điểm chính dưới góc độ kỹ thuật và mục tiêu phát triển của công nghệ này như sau:

    Evolved EDGE được phát triển lên từ công nghệ EDGE thông thường, mục tiêu của Evolved EDGE được đặt ra như sau:

    - Tăng 100 % tốc độ dữ liệu đỉnh so với EDGE
    - Tăng 50 % hiệu quả sử dụng phổ tần số và dung lượng mạng
    - Cải thiện độ nhạy thu của chiều downlink thêm 3 dB cho cả thoại và dữ liệu
    - Giảm thời gian trễ (latency)
    - Cho phép hỗ trợ các dịch vụ đàm thoại như VoIP và PoC
    - Tương thích với quy hoạch tần số hiện có, vì vậy cho phép triển khai đơn giản trong các mạng này.
    - Cùng tồn tại với các MS truyền thống bằng việc cho phép cả hai cùng nhau chia sẻ tài nguyên vô tuyến của mạng
    - Tránh việc ảnh hưởng đến haj tầng mạng bằng cách cho phép nâng cấp thông qua phần mềm

    Các kỹ thuật mà Evolved EDGE Rel.7 thực hiện là:

    - Hỗ trợ thêm điều chế 16QAM và một số phương thức điều chế/mã hóa nhằm tăng tốc độ dự liệu cực đại của một Timeslot lên 38 % so với EDGE thông thường.
    - Cho phép 1 MS thu đồng thời 2 kênh vô tuyến (2 sóng mang) để tăng số lượng timeslot có thể được sử dụng cùng lúc. Thiết bị đầu cuối cải tiến có thể cho phép thu 16 timeslot đồng thời trên 2 kênh vô tuyến và phát đồng thời ở cả 8 timeslot trên 1 kênh vô tuyến.

    - Giảm khoảng thời gian truyền dẫn (Transmission Time Interval) nhằm giảm nhỏ thời gian trễ tổng ( overall latency)
    - Hỗ trợ phân tập thu của cùng kênh vô tuyến để tăng chất lượng tín hiệu thu, đồng thời cải thiện độ nhạy máy thu thêm 3 dB

    Tối ưu cách sử dụng timeslot theo hình vẽ sau:



    Evolved EDGE so với EDGE thông thường được trình bày trong hình vẽ sau:



    Tốc độ lý thuyết của Evolved EDGE:

    - Tại chiều Downlink, thiết bị đầu cuối di động loại 2 (Type 2) sử dụng phương thức điều chế và mã hoá như trong MCS 11 và là một đầu cuối gồm hai máy thu ( dual receiver) có thể đạt được tốc độ như sau:

    - Tốc độ dữ liệu trên một Timeslot (layer 2) = 81.6 kbps
    - Số Timeslot trên 1 sóng mang = 8
    - Số sóng mang downlink được sử dụng đồng thời trên mobile terminal2 = 2

    Như vậy tốc độ tổng chiều downlink = 81.6 x 8 x 2 = 1305.6 kbps

    (theo khoalv)

  6. The Following 2 Users Say Thank You to nvqthinh For This Useful Post:

    bibibobo (05/03/2009), tranthanh179 (17/10/2013)

  7. #24
    Tham gia
    Nov 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Paris
    Bài viết
    1.694
    Thanks
    222
    Thanked 3.309 Times in 556 Posts
    Blog Entries
    1

    Mặc định

    27) Compressed mode trong UMTS là gì? Khi nào thì dùng nó?

    Trích Nguyên văn bởi nvqthinh


    - compressed mode được dùng trong UMTS FDD nói chung. Mục đích dùng compressed mode là để dành ra một khoảng thời gian rỗi để users có thể thay đổi tần số để tiến hành đo đạc, nghe ngóng ở một tần số khác (hay nói chính xác là để thực hiện inter-frequency/inter-system measurement).

    - compressed mode được thực hiện bằng 3 cách. (xem ở đây đi http://www.umtsworld.com/technology/compressed.htm, lười viết ra quá).

    - Xem hình minh họa ở trên thì sẽ thấy là thông tin (data,..) sẽ được truyền với tốc độ lớn hơn trước và sau cái khoảng thời gian rỗi ấy (compressed). Do vậy, thông tin không bị mất đi. Tuy nhiên compressed mode phải được sử dụng một cách hạn chế, chỉ dùng khi cần thôi. Trong sách của Holma có nói là nếu thực hiện 1 cái compressed mode này trên 3 frames UMTS (tức 30ms) thì performance sẽ bị degraded đi 19%.

  8. The Following 4 Users Say Thank You to nvqthinh For This Useful Post:

    bibibobo (05/03/2009), christopher (29/04/2013), noennoen (23/04/2012), tranthanh179 (17/10/2013)

  9. #25
    Tham gia
    Nov 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Paris
    Bài viết
    1.694
    Thanks
    222
    Thanked 3.309 Times in 556 Posts
    Blog Entries
    1

    Mặc định

    28) Ai có thể giúp mình phân biệt khái niệm và các trường hợp sử dụng các đăng ký IMSI-MS ISDN,TMSI-MRSN được không?

    TMSI (Temporary Mobile Subscriber Identity) , tiếng Việt gọi là số nhận dạng trạm di động tạm thời, là số nhận dạng mà mạng cung cấp cho thuê bao một khi thuê bao mở máy.TMSI có chiều dài 4 octet, được tạo ra một cách ngẫu nhiên và chỉ mang tính cục bộ trong một vùng định vị. Do đó, khi thuê bao di chuyển sang vùng khác,TMSI sẽ được cập nhật. TMSI có thể được thay đổi bất cứ lúc nào vì mục đích bảo mật. Nhận dạng TMSI được dùng để trao đổi giữa UE và trạm gốc thay vì dùng nhận dạng IMSI.

    MSI (International Mobile Subscriber Identity), tiếng Việt gọi là Bộ nhận dạng trạm gốc quốc tế, là một nhận dạng duy nhất cho mỗi một thuê bao điện thoại di động GSM/ UMTS trên toàn thế giới. IMSI được chứa trong thẻ SIM của điện thoại di động. IMSI thường là một chuỗi 15 chữ số (14 chữ số đối với các thuê bao ở Nam Phi), bao gồm một MCC (Mobile Country Code), một MNC (Mobile Network Code) và một MSIN (Mobile Station Identity Number).

    IMSI được dùng để nhận dạng thuê bao với máy chủ HLR. Tuy nhiên vì lý do bảo mật trách bị người khác theo dõi, IMSI được dùng một cách hạn chế trong các quá trình nhận thực, thay vào đó là một bộ nhận thực tạm thời TMSI, được tạo ra một cách ngẫu nhiên, sẽ được sử dụng.

    Bổ xung 1 tý về IMSI: MCC (Mobile country code) của Việt Nam là 452, còn MNC (Mobile network code) của Mobifone là 01, của Vinaphone là 02....

    ISDN (Integrated Services Digital Network), tiếng Việt gọi là mạng đa dịch vụ số, là một mạng điện thoại chuyển mạch kênh được thiết lập để cho phép truyền tải âm thanh, dữ liệu, video... bằng kỹ thuật số qua đường cáp đồng điện thoại truyền thống với mục đích nâng cao chất lượng và tốc độ dự liệu (có thể đạt được 2Mbit/s) so với điện thoại tương tự. Với sự ra đời của ADSL, số thuê bao ISDN đã giảm một cách rõ rệt và nhường chỗ cho truyền thông băng rộng.

    Trích Nguyên văn bởi dt3_27 Xem bài viết
    vậy cho em hỏi số điện thoại mà mình vẫn thường gọi đó có phải là IMSI không?
    Cảm ơn nhiều!
    Không.
    Số mà ta vẫn bấm để gọi máy di động được gọi là MSISDN (Mobile Subscriber Integrated Services Digital Network number), là số của thuê bao điện thoại di động đánh số theo quy định cho mạng ISDN (nhằm phục vụ cho định tuyến với báo hiệu SS7 - là báo hiệu kênh chung được phát triển định hướng dùng cho ISDN).

    Trích Nguyên văn bởi huutaivn Xem bài viết
    Trong number plan khi định tuyến cho các node trong mạng di động, IMSI được định tuyến theo E.212 còn MSISDN thì định tuyến theo E.164.

  10. The Following 2 Users Say Thank You to nvqthinh For This Useful Post:

    christopher (29/04/2013), tranthanh179 (17/10/2013)

  11. #26
    Tham gia
    Nov 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Paris
    Bài viết
    1.694
    Thanks
    222
    Thanked 3.309 Times in 556 Posts
    Blog Entries
    1

    Mặc định

    29) mấy anh cho em hỏi các thiết bị của mạng GSM giao tiếp với nhau bằng những giao diện nào?
    VD: như MS liên kết được với trạm BTS thông qua giao diện Um.
    vậy còn các thiết bị khát sử dụng giao diện gì vậy?


    Trích Nguyên văn bởi endless1811 Xem bài viết
    Nói thì rất dài, mình kể 1 vì giao diện trong GSM:
    - MS BTS: Um
    - BTS BSC: Abis
    - BSC MSC: A
    - MSC HLR: B
    ......
    Ngoài ra còn có rất nhiều giao diện nữa, còn có giao diện giữa GSM với các phần tử mạng ngoài. vì không có thời gian nên mình chỉ nói qua như vậy
    Trích Nguyên văn bởi onelight Xem bài viết
    Còn 1 giao diện "cơ bản" mà lúc học ít được biết, khi làm thực tế mới biết, đó là giao diện Ater, giữa BSC và TRAU.
    Muốn biết thêm thì google hay tìm một quyển sách cơ bản về GSM đọc.

  12. The Following 2 Users Say Thank You to nvqthinh For This Useful Post:

    noennoen (23/04/2012), tranthanh179 (17/10/2013)

  13. #27
    Tham gia
    Dec 2009
    Nơi Cư Ngụ
    vn
    Bài viết
    2
    Thanks
    0
    Thanked 3 Times in 1 Post

    Mặc định

    Trích Nguyên văn bởi vntelecom Xem bài viết
    12)Cho em xin hỏi các nguyên nhân dẫn đến rớt mạng trong di động là gì?
    Các nguyên nhân rớt cuộc gọi chủ yếu trong GSM là:
    - Excessive TA.
    - Low Signal Strength [ SS ].
    - Bad Quality.
    - Sudden Drop.
    - Other reason.
    Đây là 5 loại nguyên nhân rớt chính cho cả kênh SD & TCH. Dựa vào các counter trong hệ thống và bản tin báo cáo đo lường hoặc giải phóng cuộc gọi từ MS gửi về mà hệ thống sẽ phân loại đc nguyên nhân rớt cuộc gọi. Trong 5 loại nguyên nhân rớt cuộc gọi chủ yếu kể trên thì rớt cuộc gọi do 2 nguyên nhân sau cùng là khó phân tích nhất đối với nhân viên tối ưu.
    - Excessive TA: counter sẽ đếm là rớt do vượt quá timing advance nếu TA>=TALIM (TALIM<MAXTA) ở thởi điểm xảy ra giải phóng cuộc gọi một cách bất thường (thiếu bản tin gửi về hệ thống) hay còn gọi là rớt. TALIM là giá trị timing advance (TA) lớn nhất mà MS được khuyến nghị sử dụng trong cell, còn MAXTA là giá trị timing advance lớn nhất để hệ thống làm ngưỡng release cuộc gọi. Vì GMS sử dụng FDMA + TDMA nên phải có quy định về thời gian trễ lớn nhất MS được phép sử dụng để không bị chồng lấn lên khe thời gian của người sử dụng khác. Nếu giá trị đo lường timing advance TA=TALIM, thì MS buộc phải HO khẩn sang một cell neighbour khác. Nếu không có neighbor để chuyển giao (do thiếu trạm, hoặc do khai báo thiếu quan hệ neighbor) mà TA>=MAXTA thì cuộc gọi sẽ bị hệ thống release. Giá trị của TALIM, MAXTA trong khoảng 0÷63 (đơn vị: bit periods) đối với normal range cell (cell có 1 timeslot cho 1 MS thông thường) hoặc lên đến 219 đối với extended range cell (cell ghép 2 hoặc nhiều timeslot cho 1 MS). Đương nhiên là trường hợp extended range cell thì số người sử dụng đồng thời sẽ phải giảm xuống.
    - Low Signal Strength [ SS ]: trong quá trình liên lạc MS liên tục gửi các bản tin đo lường về cường độ tín hiệu (SS) và chất lượng (Quality) của chính nó và các neighbor xung quanh về BSC để BSC quyết định xem MS có phải HO hay không, nếu MS bị rớt mà bản tin đo lường cuối cùng MS gửi về chỉ ra rằng cường độ tín hiệu của MS đo được nhỏ hơn một mức ngưỡng nào đó hệ thống đặt ra (VD: -102dBm hoặc -96dBm…) thì cuộc gọi đó sẽ được tính là rớt do cường độ tín hiệu thấp Low Signal Strength. Nguyên nhân có thể do thưa trạm, vùng phủ rộng hoặc khai báo thiếu quan hệ neighbour khiến cho MS không HO được dẫn đến rớt, hoặc có thể do lỗi phần cứng như đấu chéo sai fiđơ cũng dẫn đến không HO được gây rớt.
    - Bad Quality: nguyên nhân rớt do bad quality thường liên quan đến phần tần số và được chia ra làm 2 loại: Bad quality đường DL do phần thiết kế tần số không tốt dẫn đến bị nhiễu tần số của trạm BTS này cho trạm BTS khác (lưu ý là GSM tổ ong, dải tần GSM có hạn nên phải tái sử dụng lại tần số), và Bad quality đường UL thường do nhiễu ngoài mạng gây ra. Tương tự hệ thống cũng đặt ra một mức ngưỡng RxQual nào đó (RxQual = 0÷7 tương ứng với các mức BER) để so sánh với giá trị MS đo lường gửi về và quyết định cuộc gọi bị rớt có phải do nguyên nhân bad quality hay không.
    - Sudden Drop: Cuộc gọi sẽ được tính là rớt do sudden drop nếu mạng không thể kết nối lại với MS sau một thời gian định trước nào đó và bản tin báo cáo đo lường cuối cùng mạng nhận được từ MS không do các nguyên nhân Excessive TA, Low Signal Strength, Bad Quality kể trên. Nguyên nhân: mất hoặc giảm cường độ tín hiệu mạnh một cách đột ngột khi thuê bao đi vào toà nhà, thang máy, bãi gửi xe tầng hầm, hoặc bị ảnh hưởng một cách đột ngột từ một nguồn nhiễu rất mạnh, hoặc MS bị mất nguồn đột ngột trong quá trình liên lạc, hoặc do MS di chuyển nhanh qua góc khuất của toà nhà mà chưa kịp HO…
    - Other reason: Nguyên nhân rớt này thường là do lỗi của phần cứng như: BTS HW faults, Synchronization or Abis link fault (transmission faults), MS Faults…

  14. The Following 3 Users Say Thank You to beebeou For This Useful Post:

    hqt_muno1 (06/11/2013), noennoen (23/04/2012), tranthanh179 (17/10/2013)

  15. #28
    Tham gia
    Sep 2007
    Nơi Cư Ngụ
    PTIT
    Bài viết
    26
    Thanks
    45
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Mặc định

    Các bác cho e hỏi trong UMTS sao trong điều chế đường lên dùng BPSK mà đường xuống dùng GMSK.

    Thanks in adv
    Never give up, never say die

  16. The Following User Says Thank You to haiclassic For This Useful Post:

    noennoen (23/04/2012)

  17. #29
    Tham gia
    Jul 2010
    Nơi Cư Ngụ
    Ha Noi
    Bài viết
    2
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Mặc định

    Chào mọi người, mình mới gia nhập diễn đàn.
    Theo mình nghĩ nâng từ GSM lên UMTS thì ngoài đầu tư mới hoàn toàn hệ thống UTRAN, phần Core Network cũng cần nâng cấp HLR nữa.

  18. #30
    Tham gia
    Jun 2008
    Nơi Cư Ngụ
    University of Ulsan
    Bài viết
    113
    Thanks
    65
    Thanked 259 Times in 164 Posts

    Mặc định

    Cho em hỏi tại sao trong WCDMA, độ rộng kênh lý tưởng yêu cầu là 5 MHz?
    Giá trị tần số sóng mang được chọn là bội của 200 kHz ngoài lý do để tương thích với GSM (tức là cho phép các đầu cuối GSM UTRAN dual mode có thể sử dụng chung bộ tổng hợp tần số) còn có lý do nào khác không?
    Always smile

  19. The Following User Says Thank You to anhduc.mta For This Useful Post:

    noennoen (23/04/2012)

Trang 3/4 đầuđầu 1234 cuốicuối

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •