Trang 2/4 đầuđầu 1234 cuốicuối
kết quả từ 11 tới 20 trên 35
  1. #11
    Tham gia
    Nov 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Paris
    Bài viết
    1.694
    Thanks
    222
    Thanked 3.309 Times in 556 Posts
    Blog Entries
    1

    Mặc định

    Trích Nguyên văn bởi kzb Xem bài viết
    Và người ta cũng đưa ra cơ chế để khắc phục là tạo schedule cho sleep mode và listening mode, song mình chưa rõ lắm chi tiết về việc tạo này. Làm thế nào để đồng bộ giữa các node hàng xóm với nhau để mỗi node có thể tính toán đc schedule của mình một cách thích hợp nhất? Và bao giờ phải tính toán lại ...ect...
    Ngoài ra ở MAC protocol người ta còn khắc phục dựa theo những cơ chế nào nữa để có thể tiết kiệm được năng lượng ? Và những điều này khác với mạng Wireless Internet ở chỗ nào...
    Rất mong được cùng mọi người trao đổi. Và nếu ai đã nghiên cứu về phần này rồi mình có thể xin Y!M hoặc email để nhận sự giúp đỡ ko ạh? Mình xin cảm ơn nhiều...
    1. Trong câu hỏi đầu tiên làm thế nào để đồng bộ giữa các node lân cận. Ví dụ trong mạng adhoc sử dụng chuẩn MAC wifi, thì một khi một node truy nhập vào kênh truyền thì nó phải gửi các thông tin để nghe ngóng (RTS/CTS), rồi khi nó gửi thì nó gửi một thông điệp NAV cho các node xung quanh, "coucou tui gửi thông tin đây", mấy node xung quanh nghe vậy nên sẽ chờ cho đến khi hết thời gian ghi trong NAV thì nó mới tìm cách gửi thông tin của nó. Như vậy là trách được đụng chạm.

    2. Bạn đọc các post trước thì sẽ thấy là có lớp PHY, lớp network nữa...

    3. Khác như thế nào với wireless internet? Các thiết bị mạng trong Internet (router,..) toàn được kết nối điện, nên đâu có sợ vấn đề năng lượng. Người ta có quan tâm chăng là năng lượng của máy di động như PDA, DTDD,...

  2. #12
    Tham gia
    Dec 2007
    Nơi Cư Ngụ
    Da Nang
    Bài viết
    59
    Thanks
    0
    Thanked 49 Times in 8 Posts

    Mặc định

    Mọi người phân biệt dùm mạng sensor network và mạng ad hoc network về cấu tạo cũng như nguyên lý hoạt động cùa nó. Cảm ơn nhiều

  3. #13
    Tham gia
    Nov 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Paris
    Bài viết
    1.694
    Thanks
    222
    Thanked 3.309 Times in 556 Posts
    Blog Entries
    1

    Mặc định

    Trích Nguyên văn bởi renta3885 Xem bài viết
    Mọi người phân biệt dùm mạng sensor network và mạng ad hoc network về cấu tạo cũng như nguyên lý hoạt động cùa nó. Cảm ơn nhiều
    Mạng sensor thực ra cũng là một loại mạng ad hoc. Cái khác là sensor là tạo nên từ nhiều cảm biến, các cảm biến này có khả năng tính toán giới hạn, có năng lượng giới hạn. Còn mạng ad hoc thì là mạng tạo nên bởi nhiều nút mạng (PDA, laptop, DTDT,...) để tạo một mạng lưới không có hạ tầng (ad hoc).

    Vì đặc điểm khác nhau nên trong các giao thức cũng có những thay đổi tương thích. Mục đích và ứng dụng của nó cũng khác nhau....Nhưng vì sensor cũng là ad hoc nên có rất nhiều điểm chung.

    Bác nào tìm hiểu kỹ thì bổ sung nhé.

  4. The Following User Says Thank You to nvqthinh For This Useful Post:

    canhthinh (05/10/2012)

  5. #14
    Tham gia
    Dec 2007
    Nơi Cư Ngụ
    Da Nang
    Bài viết
    59
    Thanks
    0
    Thanked 49 Times in 8 Posts

    Mặc định

    Mọi người phân biệt dùm luôn mạng wireless mesh network với hai mạng trên.
    Ba mạng trên cấu thành mạng có khái niệm là ambious network. Chắc chắn phải có sự khác nhau tương đối nào đó. Mong mọi người chỉ giáo dùm.

  6. #15
    Tham gia
    Nov 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Paris
    Bài viết
    1.694
    Thanks
    222
    Thanked 3.309 Times in 556 Posts
    Blog Entries
    1

    Mặc định

    Chắc có lẻ nên minh họa bằng hình vẻ cho nó dễ hiểu.

    Mạng mesh có topo dạng như sau: Về kiến trúc thì mesh có 3 dạng: có infrastructure (trạm phát sóng cố định), không có infrastructure và loại hybrid.



    Đây là một ví dụ mạng adhoc (nhưng hợp hơn với ứng dụng VANET).



    Đây cũng là ad hoc



    Đây là sensor



    Nói sơ thế này. Mạng ad hoc là mạng trong đó các node kết nối/liên lạc với nhau theo mode ad-hoc (không có hạ tầng mạng, định tuyến thay đổi lớn...). Ví dụ đơn giản là nhiều laptop, pda kết nối với nhau bằng ad-hoc. Ví dụ xem bài này nói làm thế nào để tạo mạng ad-hoc http://www.thongtincongnghe.com/article/2988

    Mạng sensor là mạng ad-hoc được tạo nên từ các sensor. Mà sensor thì nhiệm vụ là detect một cái gì đấy (đo nhiệt độ,...)rồi truyền về một trung tâm xử lý. Sensor khác ad hoc ở chổ sensor tính di động thấp vì chúng thường được rãi (đặt) cố định. Mình dùng từ rãi vì đúng là người ta rãi sensor khắp nơi trên chiến trường/rừng/...để detect một cái gì đó. Tuy nhiên tính năng động và thay đổi của nó cũng có do sensor hết năng lượng, hay một con vật nào đó "nuốt chửng" nó đi

    Mạng mesh thì là dùng ad-hoc để nới rộng vùng phủ sóng của mạng truyền thông WLAN/WiMAX/cellular... Nó sử dụng khái niệm relay/multi-hop để truyền thông tin để kết nối với Internet.

  7. The Following 3 Users Say Thank You to nvqthinh For This Useful Post:

    canhthinh (05/10/2012), chipvc (12/03/2009), foureyes999 (09/02/2009)

  8. #16
    Tham gia
    Dec 2007
    Nơi Cư Ngụ
    Da Nang
    Bài viết
    59
    Thanks
    0
    Thanked 49 Times in 8 Posts

    Mặc định

    Em hiểu rồi, cảm ơn nhiều

  9. #17
    Tham gia
    Jan 2008
    Nơi Cư Ngụ
    Paris 6 - UPMC
    Bài viết
    22
    Thanks
    4
    Thanked 3 Times in 1 Post

    Mặc định

    Có ai nghiên cứu sâu hơn về sensor network và auto-stabilisation, em hiểu thêm về phần này

  10. #18
    Tham gia
    Nov 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Paris
    Bài viết
    1.694
    Thanks
    222
    Thanked 3.309 Times in 556 Posts
    Blog Entries
    1

    Mặc định

    Trích Nguyên văn bởi ptcuong Xem bài viết
    Có ai nghiên cứu sâu hơn về sensor network và auto-stabilisation, em hiểu thêm về phần này
    Không biết auto-stabilisation thì khác gì với auto-organisation hay auto-configuration nhỉ? Bác MagTel làm về cái auto-organisation ấy.

  11. #19
    Tham gia
    Jan 2008
    Nơi Cư Ngụ
    Studying in Daegu, Korea
    Bài viết
    1
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Mặc định

    Chào các bác, em đang nghiên cứu về Wireless Sensor Network và các Operating Systems tiêu biểu của nó ạ. Cái này tài liệu tiếng Việt không có ạ. Em mới bắt đầu nên có một số từ tiếng anh mà em chưa hiểu sâu nghĩa được: Kernel, Thread, Multi-Threading, Timer, Mac, bác nào hiểu rõ thì giải thích giúp em với ạ. Thanks các bác nhiều.

  12. #20
    Tham gia
    Mar 2008
    Nơi Cư Ngụ
    MPS
    Bài viết
    1
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Mặc định Sơ bộ vấn đề đồng bộ lịch trong S-MAC, T-MAC trong WSN

    Trước khi mỗi nút bắt đầu chu kỳ nghe - ngủ, nó cần phải chọn một lịch trình làm việc (thời gian biểu) và trao đổi nó với các nút lân cận. Mỗi nút duy trì một bảng biểu lưu giữ tất cả các thời gian biểu của các nút lân cận mà nó biết. Quy trình chọn thời gian biểu của mỗi nút như sau:
    b1. Nút đầu tiên sẽ nghe trong một khoảng thời gian nhất định. Nếu nó không nghe thấy thời gian biểu từ nút khác, nó chọn ngẫu nhiên một khoảng thời gian để bắt đầu ngủ và tức thời quảng bá thời gian biểu của nó trong thông điệp SYNC, thông điệp này thông báo rằng nó sẽ ngủ sau khoảng thời gian t giây. Chúng ta gọi một nút trên là nút đồng bộ (synchronizer) vì khi nó tự chọn cho mình một thời gian biểu độc lập và những nút khác sẽ phải đồng bộ với nó.
    b2. Nếu một nút nhận được một thời gian biểu của một nút lân cận trước khi nó tự chọn cho mình thì nó sẽ theo thời gian biểu đó sự thiết lập thời gian biểu cho mình. Ta gọi nút như vậy là nút đồng bộ theo (follower). Sau đó nó đợi một khoảng thời gian ngẫu nhiên td và quảng bá lại thời gian biểu này, và thông báo rằng nó sẽ ngủ sau t - td giây nữa. Sở dĩ phải đợi ngẫu nhiên khoảng thời gian td để tránh xung đột, vì nhiều khả năng có nhiều nút đồng bộ theo một nút, khi quảng bá lại thời gian biểu của mình cùng một thời điểm sẽ xảy ra xung đột.
    b3. Nếu một nút nhận được một thời gian biểu khác sau khi nó lựa chọn và quảng bá thời gian biểu của mình, nó sẽ chấp nhận cả hai (Ví dụ, nó sẽ lập lịch cho nó tỉnh dậy tại những thời điểm trong cả hai thời gian biểu, của chính nó và của nút lân cận). Nó quảng bá thời gian biểu của nó trước khi đi ngủ.
    Điều chúng ta chờ đợi là hiếm khi xảy ra các nút phải duy trì nhiều thời gian biểu, các nút cố gắng theo thời gian biểu có sẵn trước khi chọn cho mình một thời gian biểu độc lập. Mặt khác, xảy ra trường hợp một các nút lân cận thất bại trong việc khám phá ra nhau tại thời điểm bắt đầu do xung đột khi quảng bá thời gian biểu. Chúng vẫn có thể tìm thấy nhau sau đó trong chu kỳ kế tiếp.

    Duy trì Đồng bộ

    Sơ đồ nghe/ngủ yêu cầu sự đồng bộ giữa những nút lân cận. Mặc dầu thời gian nghe dài có thể bỏ qua sự trôi dạt thời gian khá lớn, nhưng những nút trong vùng lân cận vẫn cần định kỳ cập nhật lẫn nhau thời gian biểu của chúng để ngăn ngừa thời gian trôi dạt quá dài.
    Việc cập nhật thời gian biểu được thực hiện bởi việc gửi một gói tin đồng bộ SYNC. Gói tin SYNC rất ngắn, và bao gồm địa chỉ của ngư¬ời gửi và thời gian của giấc ngủ tiếp theo của nó. Thời gian ngủ tiếp theo liên quan đến thời điểm mà nơi gửi kết thúc truyền gói tin đồng bộ SYNC, cũng xấp xỉ khi nơi nhận nhận được gói tin (khi độ trễ truyền ngắn). Những nút nhận sẽ điều chỉnh đồng hồ của chúng ngay sau khi chúng nhận gói tin đồng bộ. Nút cảm biến sẽ đi tới giấc ngủ khi đồng hồ của nó kết thúc tính giờ (cháy).
    Để một nút nhận được cả những gói đồng bộ hóa lẫn những gói dữ liệu, chúng ta chia cắt khoảng nghe (listen) của nó thành hai phần. Phần đầu tiên để nhận những gói tin đồng bộ, phần hai để nhận những gói RTS (Hình 3). Mỗi phần được chia tiếp thành nhiều khe thời gian cho những nút gửi để thực hiện cảm nhận sóng mang. Ví dụ, nếu một nút gửi muốn gửi một gói tin đồng bộ thì nó khởi động cảm nhận sóng mang khi nút thu bắt đầu nghe. Nó ngẫu nhiên lựa chọn một khe thời gian để kết thúc cảm nhận sóng mang. Nếu nó không phát hiện ra bất kỳ sự truyền nào vào khoảng cuối khe, thì nó chiếm được đường truyền và bắt đầu gửi gói tin đồng bộ của nó ở tại thời điểm ấy. Việc thực hiện truyền gói dữ liệu cũng được thực hiện tương tự.

    Hình 3.3. Quan hệ định thời giữa nút nhận và các nút gửi. CS(Carrier Sensor) Cảm nhận sóng mang
    Hình 3.3 cũng thể hiện mối quan hệ định thời của ba trường hợp có thể khi một nút gửi thưc hiện truyền tời một nút thu. CS là cảm biến sóng mang. Trong sơ đồ, Sender 1 chỉ gửi một gói tin đồng bộ SYNC. Sender 2 chỉ muốn gửi dữ liệu. Sender 3 gửi một gói tin đồng bộ và một gói tin RTS.
    Mỗi nút định kỳ quảng bá những gói tin đồng bộ tới các lân cận của nó thậm chí nếu nó không có nút đồng bộ theo. Điều này cho phép một nút mới gia nhập nhóm lân cận đã tồn tại trước đó. Nút mới thực hiện thủ tục để chọn một thời gian biểu có sẵn làm thời gian biểu của nó. Quãng thời gian nghe đủ dài để nó có khả năng học và theo một thời gian biểu có sẵn trước khi nó tự chọn cho mình một thời gian biểu độc lập.

    namlethanh@gmail.com

Trang 2/4 đầuđầu 1234 cuốicuối

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •